Bật mí những phát minh vĩ đại của người Trung Quốc cổ đại

Bật mí những phát minh vĩ đại của người Trung Quốc cổ đại

Khoa học - công nghệ

Trung Quốc – xứ sở thần tiên không chỉ nổi tiếng với những công trình kiến trúc vĩ đại nhất thế giới với nền kinh tế hùng mạnh mà còn bởi những phát minh vĩ đại mà người Trung Hoa cổ đại đã tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử. Những phát minh bậc thầy này đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại ngày nay. Dưới đây là những phát minh tiêu biểu nhất xuất hiện trong nền văn minh Trung Hoa cổ đại khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Phát minh ra giấy

Giấy (造纸术) là 1 trong 4 phát minh vĩ đại của Trung Quốc vào năm 105. Khoảng 3500 năm trước. Vào thời nhà Thương, Trung Quốc đã có các bản khắc trên mai rùa và xương động vật, khi đó được gọi là chữ giáp cốt. Vào thời Xuân Thu, mảnh tre và gỗ được sử dụng thay cho mai rùa và xương động vật, được gọi là thẻ tre và thẻ gỗ. Mai rùa, xương động vật, thẻ tre và thẻ gỗ rất cồng kềnh và bất tiện. Vào thời Tây Hán, các quý tộc triều đình dùng giấy lụa và lụa mỏng để viết chữ. Lụa không chỉ viết được nhiều hơn thẻ tre. Mà còn có thể vẽ tranh lên nhưng giá thành đắt, chỉ được sử dụng bởi một số hoàng thân và quý tộc.

Mọi người đều nghĩ rằng Thái Luân là người tạo ra giấy, nhưng thật ra trước khi Thái Luân sản xuất giấy với quy mô lớn thì vào thời Đông Hán, người Trung Quốc đã phát minh ra nghề làm giấy. Nhiều loại giấy cổ từ thời Tây Hán đã được khai quật ở nhiều vùng khác nhau của Trung Quốc vào thế kỷ XX có thể chứng minh điều này. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận công tạo ra giấy của Thái Luân, nhưng việc tạo ra giấy của Thái Luân không phải là một phát minh đột biến mà cả một quá trình tích lũy kỹ thuật.

La bàn là một phát minh vĩ đại của Trung Quốc

La bàn (指南针) do người Trung Hoa phát minh từ thời Chiến quốc sau khi tìm ra đá nam châm. Họ dùng đá nam châm thiên nhiên mài gọt thành hình dáng như một cái thìa, sau đó đặt trên một cái đế bằng đồng được mài nhẵn và quay chiếc thìa. Đế đồng được phân chia theo các cung quẻ, 4 phương 8 hướng. Khi chiếc khi thìa dừng lại, hướng của cán thìa sẽ quay về hướng Nam. Thời bấy giờ gọi là Tư Nam (司南).

La bàn
La bàn của Trung Quốc thời cổ đại

Lý luận về la bàn sớm nhất ở Trung Quốc được hình thành trên “thuyết cảm ứng” dựa trên học thuyết âm dương ngũ hành. La bàn là kết quả của quá trình thực hành lâu dài của nhân dân lao động Trung Quốc cổ đại về từ tính của nam châm. Là một trong bốn phát minh vĩ đại của Trung Quốc cổ đại. La bàn đóng vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Ở Trung Quốc cổ đại, la bàn lần đầu tiên được sử dụng trong cúng bái, nghi lễ, quân sự, bói toán, xem phong thủy để xác định vị trí.

Phát minh ra thuốc súng

Thuốc súng (火药) là phát minh nổi tiếng nhất của Trung Hoa cổ đại. Vào khoảng thế kỷ thứ VI, nhà luyện đan, đạo sĩ hay nhà chiêm tinh thời Đường quan niệm con người có thể trường sinh bất lão. Trong khi mày mò nghiên cứu tìm cách chế tạo “tiên đan”; có người đã vô tình để lửa bén vào gây nổ. Cuối cùng tạo ra thuốc nổ. Tuy nhiên, khi đó thuốc nổ chỉ được dùng làm pháo đốt, pháo bông phục vụ cho lễ hội.

Vào thời Đường, có người tên là Thanh Hư Tử đã đề xuất công thức chế thuốc nổ. Theo tỉ lệ hai lạng lưu huỳnh, hai lạng đá tiêu, ba chỉ rưỡi aristolochic. Cuối triều Đường, đầu triều Tống thuốc nổ bắt đầu được dùng trong quân sự.

Phát minh ra thuốc súng
Phát minh ra thuốc súng

Thuốc súng của Trung Quốc đã thúc đẩy tiến trình của lịch sử thế giới. Nhà triết học người Đức Ph.Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của Trung Quốc trong việc phát minh ra thuốc súng: “Hiện tại đã được chứng thực, thuốc súng được truyền từ Trung Quốc đến người Ả Rập qua Ấn Độ. Và từ Tây Ban Nha truyền đến châu Âu.” Việc phát minh ra thuốc súng đã thúc đẩy quá trình phát triển lịch sử và là một trong những dấu mốc quan trọng của thời kỳ Phục hưng châu Âu và cải cách tôn giáo.

In ấn – Phát mình của người Trung Quốc

Nghề in (印刷术) bắt nguồn từ thói quen kí tên bằng con dấu của người Trung Hoa cổ đại. Người Trung Quốc xưa khi sử dụng con dấu vẫn phải bôi lên mặt con dấu một lớp mực in. Từ đó, họ khắc những con chữ lên tấm gỗ giống như khắc những con dấu. Rồi phủ một lớp mực mỏng lên bề mặt tấm gỗ, đặt tờ giấy lên, dùng gạt, gạt nhẹ lên trên tờ giấy. Thời Tống chuyển sang kĩ thuật in chữ, khắc trên đất sét rồi đem nung. Trong khi châu Âu đến thế kỉ XV kĩ thuật in chữ mới ra đời.

Việc truyền bá công nghệ in sang châu Âu đã thúc đẩy quá trình phát triển xã hội ở đây. Và tạo điều kiện cho sự xuất hiện của thời kỳ Phục hưng. Các Mác gọi việc phát minh ra kỹ thuật in ấn; thuốc súng và la bàn là “điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự phát triển của giai cấp tư sản”.

Phát minh ra máy địa chấn

Mặc dù người Trung Quốc không thể đo chính xác động đất theo độ richter (vì độ richter chưa được phát minh ra cho tới năm 1935). Họ cũng phát minh ra thiết bị phát hiện động đất đầu tiên trên thế giới: máy ghi địa chấn. Đầu thế kỉ thứ 2, nhà thiên văn học hoàng gia Chang Heng. Đã tạo ra một chiếc máy ghi địa chấn tuyệt đẹp trong thời kì nhà Hán. Đó là máy ghi địa chấn giúp cảnh báo nguy hiểm. Điều thú vị là thoạt nhìn cái máy này trông giống hệt một chiếc bình đồng đẹp mắt.

máy địa chấn
Máy địa chấn thời kì nhà Hán

Chiếc máy ghi địa chấn này có hình dạng là một cái bình bằng đồng. Với 9 con rồng chúc đầu xuống; bao quanh thân bình. Dưới 9 con rồng là 9 con ếch há miệng hướng lên trên. Bên trong bình, một con lắc được treo bất động. Khi xảy ra địa chấn, con lắc sẽ kích hoạt các đòn bẩy và một quả bóng nhỏ. Sẽ thoát ra từ miệng rồng, rơi xuống miệng con ếch ngồi phía dưới. Chiếc máy này giúp cảnh báo khá tốt vì động đất thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc. Trông có vẻ đơn giản, nhưng phải tới thế kỷ 13; máy ghi địa chấn mới được phát minh ở Ba Tư và ở Pháp vào đầu thế kỷ 18.

Với những phát minh vĩ đại của Trung Quốc không chỉ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người Trung Quốc cổ đại; mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn minh toàn nhân loại.

Mong rằng thông tin trên sẽ giúp ích cho bạn!